CPU

Lịch sử hình thành của Intel CPU phần 1

Admin 05/05/2017
5 682 views

Trong ngành công nghệ máy tính nói chung và trong thị trường Cpu nói riêng, Intel vẫn là một cái tên mà bất cứ khi nào chúng ta nói đến PC thì sẽ nghĩ ngay đến hãng máy tính này. Intel là từ viết tắt của Integrated Electronics, hãng được thành lập vào năm 1968 tại California, USA bỏi hai người sáng lập Gordon E.Moore và Robert Noyce. Trong lịch sử phát triển dòng CPU của mình, đã có rất nhiều loại Cpu đã được Intel giới thiệu ra thị trường. bây giờ chúng ta sẽ đi tìm hiểu những sản phẩm đó !

lịch sử Cpu

1. CPU 4004

Bộ vi sử lý được sản xuất vào năm 1971 và được thiết kế bởi Federico Faggin, Ted Hoff, và Stanley Mazor. Intel 4004 là một bộ vi xử lý 4-bit, 16 chân, hoạt động ở tốc độ 740KHz -  khoảng tám chu kỳ đồng hồ cho mỗi chu kỳ lệnh (nhận lệnh, giải mã, thực hiện), điều đó có nghĩa là con chip có khả năng thực hiện lên đến 92.600 lệnh mỗi giây. CPU 4004 được thiết kế để làm việc cùng 3 loại microchips khác bao gồm 4001 ROM, 4002 RAM và  4003 Shift Register. 

CPU 4004
2. CPU 8008 và 8080
Intel đã giới thiệu thế hệ CPU tiếp theo trong năm 1972 với tên 8008 , năm 1974 với CPU 8080 và năm 1975 với CPU 8085. Mặc dù dòng 8008 là dòng đầu tiên sử dụng 8 bit được sản xuất bởi Intel, tuy nhiên nó đã không được thành công so với người tiềm nhiệm 4004 và người kế thừa 8080. Tần số CPU 8008 hoạt động giữa 200 và 800 KHz và nó không được nhiều nhà phát triển phần mềm ứng dụng nhiều. CPU 8080 thì lại thành công hơn nhiều so với người tiềm nhiệm 8008. CPU 8080 được kế thừa từ 8008 và được bổ sung thêm những câu lệnh mới và công nghệ sản xuất transtor là 6 µm. và tốc độ lớn nhất của CPU này hoạt động được là 2 MHz.

CPU 8008CPU 8080
3. CPU 8086 và 8088
Intel giới thiệu CPU này vào khoảng năm 1978. Đây là CPU đầu tiên sử dụng hệ thanh ghi 16 bit và mạnh hơn rất nhiều so với người tiềm nhiệm, và là chip đầu tiên sử dụng kiến trúc x86. Nhiều câu lệnh mới được bổ sung trong CPU này. CPU này chứa khoảng 29.000 transistors và có thể chạy ở tốc độ 5 MHz. Các Bus địa chỉ là 20 bits do đó 8086  có thể chạy được với ram lên tới 1 Mb. Chính việc này đã làm cho 8086 lợi thế mạnh mẽ hơn rất nhiều so với các CPU cùng thời thanh ghi chỉ có 8 bits, hỗ trợ ram 64 kb ( 216)
Tuy nhiên trong thời gian này hầu hết các  máy tính đều sử dụng CPU 8 bits, và các hệ điều hành và các chương trình thời đó cũng chỉ chạy trên nền tảng 8 bit CP/M ( Control Program for Microprocessors) Do đó việc nâng cấp Motherborad, mở rộng cards hoặc bộ nhớ hệ thống đang còn rất đắt đỏ. Chính vì điều đó, Intel cũng đưa ra thị trường dòng sản phẩm 8088, dựa trên nền tảng của 8086, với thanh ghi 16 bit, data bus xuất ra ngoài chỉ 8 bit và có thể chạy được trên các hệ thống cũ. Từ những lý do đó IBM đã chọn loại CPU này ( 8-bit 8088 chạy ở 4.77 MH ) cho loại máy PC đầu tiên của họ. và máy tính đầu tiên đã được giới thiệu vào năm 1981. Sự kiện này đã thay đổi rất nhiều đến Intel và Microsoft. Và từ đó xuất hiện hệ điều hành Microsoft Disk Operating System (MS-DOS) version 1.0 cho máy tính mới này. Quyết định này của IPM đã ảnh hưởng tới lịch sử phát triển của máy tính nói chung và CPU nói riêng bởi vì CPU 8088 được thừa hưởng các tính chất từ dòng 8086 do đó nó có thể chạy được phần mềm 16 bits và những câu lệnh trên dòng 8088 cũng giống như trên các dòng cũ 8085 và 8080 do đó các chương trình có thể dễ dàng chạy trên dòng 8088 và cho phép một lượng lớn chương trình giới thiệu cho máy tính IBM và góp phần vào thành công của hãng này.

CPU 8086
4. 80186 
Tiếp theo sự thành công của dòng CPU 8086, Intel đã giới thiệu dòng CPU mới có mã hiệu 80186 với cùng kiến trúc 16 bit. Tuy nhiên Intel đã tích hợp một số cải tiến giữa motherboard và CPU do đó đã cải thiện đáng kể toc71 độ so với CPU 8086 mặc dù cùng tần suất clock. Tuy nhiên Intel tiếp tục cải tiến và tăng tần số CPU 

CPU 80186
5. CPU 80286 (286)
Vào năm 1982, Intel đã giới thiệu ra toàn thế giới hệ Cpu mới của hãng, Cpu 80286. Cpu đầu tiên sau sự kiện IBM PC AT ( Advanced Technology). Cpu này đã cải thiện được các lỗi xảy ra trên các dòng đời cũ 80186 và 80188. Những máy tính khác được biết đến với cái tên IBM clones với AT systems.
Khi IBM phát triển AT, họ đã chọn lựa dòng Cpu 286 cho hệ thống mới của họ bởi vì loại chip này tương đồng với dòng 8088 trên PC và XT. Do đó các phần mềm viết cho dòng chip cũ có thể chạy trên hệ chip mới 286. Hơn nữa dòng chip mới mạnh hơn rất nhiều so với 8088 trên XT. Dòng 286 có thể sử dụng hệ 24 bit có nghĩa có thể sử dụng được 16 MB Ram.

6. IAPX 432.
Dòng IAPX 432 sớm được Intel giới thiệu với sự hoàn toàn khác biệt trong cách thiết kế. Intel hi vọng hệ chip mới của họ có thể nhanh hơn vài lần so với hệ chip cũ họ đã giới thiệu ra thị trường. Tuy nhiên kết quả không được như mong đợi. dòng Cpu này đã bị lỗi do một số lỗi lớn trong Cpu này. 


7. I960: Intel First RISC
Vào năm 1984, Intel giới thiệu ra thị trường dòng CPU đầu tiên RISC. Nó được thiết kế không phải để trở thành đối thủ của dòng x86 Cpu bởi vì nó được dự định đẩy mạnh về sự bảo mật cho CPU.  Trong trong Cpu này sử dụng hệ kiến trúc 32 bit sử dụng Berkeley RISC. Hệ Cpu đầu tiên chạy khá chậm và mô hình PC chạy chậm nhất vào khoảng 10 MHz, tuy nhiên trong những năm sau đó Cpu này đã được cải thiện đáng kể và các transition được làm nhỏ hơn khiến Cpu có thể chạy được ở tốc độ 100 MHz và nó có thể được hỗ trợ tối đa 4 Gb Ram.


Còn tiếp...

Từ Khóa: